|
I. Hồ sơ của Đề tài
Đề tài cấp nhà nước: "Xây dựng đội ngũ trí thức Việt
Nam giai đoạn 2011-2020"1 (Mã số: KX.04.16/06-10) thuộc Chương trình Khoa
học và Công nghệ trọng điểm cấp nhà nước KX.04/06-10: "Nghiên cứu khoa học
lý luận chính trị giai đoạn 2006 - 2010".
Ngày 18-6-2007, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ra
Quyết định số 1083/QĐ-BKHCN: Về việc phê duyệt Danh mục đề tài thuộc Chương
trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2006-2010 (Mã
số: KX.04/06-10) để tuyển chọn, xét chọn giao trực tiếp thực hiện trong Kế
hoạch năm 2007, gồm 32 đề tài. Trong số 32 đề tài có Đề tài KX.04.16/06-10:
"Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020". Lúc đầu, Đề tài
này được giao cho 3 cơ quan chuẩn bị hồ sơ là: 1) Liên hiệp các hội khoa học
và kỹ thuật Việt Nam. 2) Ban Tuyên giáo Trung ương. 3) Bộ Giáo dục và Đào
tạo. Đến kỳ hạn nộp hồ sơ và tuyển chọn, xét chọn, chỉ có 1 hồ sơ của Liên
hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam. Tuy nhiên, Hồ sơ này lại vi phạm
Quyết định số 11/QĐ-BKHCN, ngày 4-6-2007 của Bộ Khoa học và Công nghệ, vì
Chủ nhiệm thực hiện 1 đề tài khoa học nhà nước trước đó nghiệm thu chậm so
với thời hạn kết thúc hợp đồng nghiên cứu từ 6 tháng trở lên mà không báo
cáo Bộ Khoa học và Công nghệ. Còn lại 2 cơ quan là Ban Tuyên giáo Trung ương
và Bộ Giáo dục và Đào tạo, không thấy nộp hồ sơ xin tuyển chọn, xét chọn.
Như vậy, đợt tuyển chọn, xét chọn thứ nhất không có hồ sơ nào.
Trước tình hình đó, Bộ Khoa học và Công nghệ vẫn quyết
định cho làm Đề tài này, vì tên và mã số của Đề tài đã được Chính phủ
duyệt.
Đợt tuyển chọn, xét chọn lần thứ hai, tại Quyết định
số 2110/QĐ-BKHCN, ngày 28-9-2007 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ,
giao cho 6 cơ quan chuẩn bị hồ sơ: 1) Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật
Việt Nam. 2) Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh. 3) Đại học Quốc gia Hà
Nội. 4) Ban Tuyên giáo Trung ương. 5) Hội đồng Lý luận Trung ương. 6) Bộ
Giáo dục và Đào tạo. Thấy trong danh sách 6 cơ quan được chỉ định chuẩn bị
hồ sơ, có tên Hội đồng Lý luận Trung ương, chúng tôi báo cáo với Thường trực
Hội đồng và Ban Chủ nhiệm Chương trình KX.04/06-10, cho chúng tôi đăng ký
làm Đề tài này, vì theo Quyết định số 11/2007/QĐ-BKHCN, ngày 4-6-2007 của Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về quy định tuyển chọn, xét chọn tổ chức, cá
nhân chủ trì thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn cấp nhà
nước, thì cá nhân nhà khoa học cũng có quyền đăng ký làm đề tài và chủ nhiệm
đề tài cấp nhà nước1. Thường trực Hội đồng và Ban Chủ nhiệm Chương trình
KX.04/06-10 đồng ý. Chúng tôi gấp rút làm Hồ sơ. Đến kỳ hạn nộp Hồ sơ, Bộ
thông báo chỉ có 1 Hồ sơ nộp của Hội đồng Lý luận Trung ương do chúng tôi
chuẩn bị.
Ngày 12-11-2007, Hội đồng Khoa học cấp nhà nước tư
vấn, xét chọn tổ chức và cá nhân thực hiện Đề tài KX.04.16/06-10 do GS,VS
Nguyễn Duy Quý làm Chủ tịch Hội đồng, họp lần 1, tại Hội trường A Ban Tuyên
giáo Trung ương, số 7, phố Nguyễn Cảnh Chân, quận Ba Đình, Hà Nội để mở Hồ
sơ và xem Hồ sơ đã đầy đủ thủ tục chưa? Người đăng ký xin làm Chủ nhiệm Đề
tài cũng được mời đến để chứng kiến Bộ mở Hồ sơ. Sau khi xem xét, Hội đồng
kết luận bộ Hồ sơ này đầy đủ thủ tục.
Ngày 21-11-2007, Hội đồng họp lần 2 để đánh giá chất
lượng Hồ sơ và bỏ phiếu kín tín nhiệm. Theo quy định, lần họp này, người
đăng ký Chủ nhiệm Đề tài không được mời dự. Nhưng sau đó, chúng tôi được Bộ
Khoa học và Công nghệ thông báo số phiếu: Về nội dung đạt 63,5/100 điểm. Về
năng lực nghiên cứu đạt 15,83 điểm. Tổng cộng đạt 79,33/100 điểm (Theo Quyết
định số 11/2007/QĐ-BKHCN, ngày 4-6-2007 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công
nghệ, quy định tuyển chọn, xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện Đề
tài nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn cấp nhà nước, thì thuyết minh của
Đề tài trong bộ Hồ sơ, "có tổng số điểm trung bình đạt tối thiểu 70/100
điểm, trong đó, điểm trung bình về phần nội dung thuyết minh đề tài đạt tối
thiểu 60/80 điểm và điểm trung bình của phần năng lực và kinh nghiệm của tổ
chức, cá nhân thực hiện đề tài đạt tối thiểu 10/20 điểm). Như vậy, sau khi
bỏ phiếu, bộ Hồ sơ của chúng tôi đăng ký xin làm Đề tài KX.04.16/06-10 đã
vượt trội được 9,33 điểm so với điểm trúng tuyển, xét chọn.
Bộ Hồ sơ của Đề tài do chúng tôi chuẩn bị, dày 237
trang, trong đó, phần thuyết minh là 112 trang, trình bày cặn kẽ, sâu sắc
các vấn đề mục tiêu nghiên cứu của Đề tài; yêu cầu đối với sản phẩm; tình
trạng Đề tài; tổng quan tình hình nghiên cứu, luận giải về mục tiêu và những
nội dung nghiên cứu của Đề tài; tình hình nghiên cứu ở trong nước, ngoài
nước; luận giải về sự cần thiết, tính cấp bách, ý nghĩa lý luận và thực tiễn
của Đề tài; những đóng góp mới của Đề tài.
Ban Chủ nhiệm Đề tài:
- PGS,TS Đàm Đức Vượng (Đức Vượng), nguyên Vụ trưởng,
Thư ký Khoa học chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương, Viện trưởng Viện
Khoa học nghiên cứu nhân tài, nhân lực (Chủ nhiệm Đề tài).
- TS Nguyễn Viết Thông, Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận
Trung ương, Uỷ viên Ban Chủ nhiệm Chương trình KX.04/06-10 (Phó Chủ nhiệm Đề
tài).
- ThS Lê Đức Thắng, Trưởng Ban Thư ký Chương trình
KX.04/06-10 (Thư ký Đề tài).
Lực lượng thực hiện chính của Đề tài:
- GS,TS Hoàng Chí Bảo.
- GS,TS Nguyễn Hữu Châu.
- GS,TS Phạm Ngọc Quang.
- GS,TS Mạch Quang Thắng.
- PGS,TS Bùi Đình Bôn.
- PGS,TS Đàm Đức Vượng (Đức Vượng).
- TS Bùi Văn Hưng.
- TS Nguyễn Viết Thông.
- TS Đinh Quang Ty.
- ThS Lê Đức Thắng.
Ngoài ra, còn có gần 100 nhà khoa học ở trong nước và
ngoài nước là cộng tác viên tham gia nghiên cứu Đề tài.
Thời gian thực hiện Đề tài: Từ năm 2007 đến năm 2010.
II. Nội dung nghiên cứu của Đề tài
Phần Mở đầu của Đề tài, trình bày những vấn đề về tính
cấp thiết của Đề tài; mục tiêu nghiên cứu của Đề tài; yêu cầu nghiên cứu của
Đề tài; phương pháp nghiên cứu; nội dung nghiên cứu; trình bày những khái
niệm về trí thức.
Dưới góc độ lý luận chính trị, Đề tài xác định rõ mục
tiêu nghiên cứu là:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trí, vai
trò, đặc điểm của đội ngũ trí thức Việt Nam trong công cuộc đổi mới và trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó, có tham khảo
kinh nghiệm xây dựng và sử dụng đội ngũ trí thức ở một số nước phát triển.
- Đánh giá đúng thực trạng đội ngũ trí thức Việt Nam
và chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đội ngũ trí thức qua hơn 20 năm
đổi mới và hiện nay.
- Dự báo xu hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam
đến năm 2020.
- Đề xuất mục tiêu, quan điểm, phương hướng, giải pháp
cơ bản xây dựng đội ngũ trí thức giai đoạn 2011-2020.
- Kiến nghị những nội dung cụ thể về xây dựng đội ngũ
trí thức Việt Nam đến năm 2020, phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng chiến
lược phát triển kinh tế - x• hội Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và chiến lược
phát triển và trọng dụng nhân tài quốc gia Việt Nam; trình Trung ương xem
xét để bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991 và dự thảo các văn kiện Đại
hội XI của Đảng.
Phần thứ nhất của Đề tài:
Trình bày về thực trạng đội ngũ trí thức Việt Nam
hiện nay:
Đánh giá về đội ngũ trí thức Việt Nam; những đóng góp
của đội ngũ trí thức Việt Nam qua hơn 20 năm đổi mới và hiện nay; xác định
vị trí, vai trò, đặc điểm của trí thức Việt Nam; thực trạng đội ngũ trí thức
Việt Nam hiện nay.
Theo các nguồn tài liệu chính thống, đến giữa năm
2007, Việt Nam có khoảng 2,6 triệu người có trình độ đại học trở lên, chiếm
4,5% lực lượng lao động, trong đó, có trên 18 nghìn thạc sĩ, 16 nghìn tiến
sĩ và tiến sĩ khoa học, trên 6 nghìn giáo sư, phó giáo sư. Ước tính tổng số
trí thức, công chức, viên chức của cả nước hiện nay là khoảng 3,5 triệu
người. Trí thức làm việc trong khu vực sự nghiệp chiếm 71%, khu vực hành
chính chiếm gần 22% và khu vực kinh doanh 7%. Trí thức Việt Nam ở nước ngoài
có khoảng 400 nghìn người, chiếm trên 10% số người Việt Nam đang ở nước
ngoài.
Phần thứ hai của Đề tài:
Trình bày về về trí thức Việt Nam trong một số
lĩnh vực của đời sống xã hội:
Lĩnh vực giáo dục và đào tạo; lĩnh vực khoa học học và
công nghệ; lĩnh vực nghiên cứu lý luận chính trị; lĩnh vực giảng dạy; lĩnh
vực xây dựng luật pháp, chính sách; lĩnh vực tư tưởng; lĩnh vực văn hóa;
lĩnh vực báo chí, truyền thông; lĩnh vực kinh tế; kinh tế trí thức; lĩnh vực
quốc phòng và an ninh; lĩnh vực y tế; lĩnh vực ngoại giao; lĩnh vực trí thức
Việt Nam ở nước ngoài.
Phần thứ ba của Đề tài:
Trình bày về lý luận và phương hướng xây dựng đội
ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020:
Về lý luận:
Đề tài nghiên cứu lý luận xây dựng đội ngũ trí thức
Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Đó là lý luận về thành
phần trong trí thức; lý luận về địa vị người trí thức trong xã hội; lý luận
về sự gắn kết giữa trí thức với công nhân, nông dân, công chức, viên chức,
tạo thành sức mạnh trong thời kỳ mới; lý luận về xóa đi sự khác biệt giữa
trí thức với các giai cấp khác trong xã hội; lý luận về không ngừng học tập,
nâng cao trình độ của trí thức; lý luận đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng trí
thức, trọng dụng nhân tài; lý luận về sự phát triển số lượng và nâng cao
chất lượng của đội ngũ trí thức Việt Nam phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước; lý luận về sự cấu thành quan trọng của trí thức trong
cách mạng văn hóa; lý luận về mối quan hệ giữa trí thức với cách mạng khoa
học và công nghệ, giáo dục và đào tạo; lý luận về quan điểm của Đảng Cộng
sản đối với trí thức và mối quan hệ của trí thức đối với Đảng Cộng sản.
Về phương hướng:
Phương hướng xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai
đoạn 2011-2020, trước hết, Đề tài căn cứ vào mục tiêu phát triển của đất
nước đến năm 2020; căn cứ vào những điểm bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm
1991 của Đảng; căn cứ vào xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
của Việt Nam giai đoạn 2011-2020; căn cứ vào sự phát triển của công nghiệp
hóa, hiện đại hóa Việt Nam giai đoạn 2011-2020; căn cứ vào xu thế phát triển
của chính trị, kinh tế, khoa học và công nghệ thế giới trong những thập kỷ
tới; tham khảo một số kinh nghiệm thành công trong việc xây dựng đội ngũ trí
thức và chính sách đối với trí thức ở một số nước phát triển và đang phát
triển để xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020.
Dự báo sự phát triển của đội ngũ trí thức Việt Nam
trong tương lai là yếu tố quan trọng để xác định phương hướng xây dựng đội
ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020. Muốn dự báo chính xác cái của
ngày mai, trước hết, phải xác định đúng, rõ cái của ngày hôm nay. Tổ chức
thương mại thế giới (WTO) xác định thời hạn Việt Nam được công nhận là nền
kinh tế thị trường đầy đủ là vào năm 2018. Lúc này, Việt Nam phải hội đủ các
yếu tố: kinh tế thị trường; hệ thống luật pháp; kinh tế tri thức (trí thức);
hệ thống chính sách về tạo nguồn nhân lực và phát triển nhân tài.
Trên cơ sở những căn cứ và dự báo trên, Đề tài xác
định phương hướng xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020 gắn
với phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức.
Đề tài tập trung nghiên cứu xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn
2011-2020 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; mở rộng quy mô
giáo dục, thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục; có chính
sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng trí thức, trọng dụng nhân tài, các nhà khoa
học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và
công nhân kỹ thuật có tay nghề cao; giải quyết vấn đề trí thức bằng hai yêu
tố tinh thần và vật chất, trong đó, đặc biệt chú ý đến yếu tố tinh thần; xây
dựng nhân cách người trí thức Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước; tạo ra những nhà khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, nhà chính
trị, nhà quân sự, nhà kinh tế, nhà văn hóa, nhà ngoại giao tài giỏi.
Cụ thể nghiên cứu những vấn đề sau đây:
- Trước hết, cần xác định quan điểm nhận thức đối với trí thức.
- Khai thác, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài.
- Nâng cao một bước chất lượng giáo dục và đào tạo.
- Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020, phải được gắn
bó chặt chẽ với sự phát triển của kinh tế tri thức.
- Vấn đề con người trong tiến trình phát triển kinh tế, xã hội, văn
hóa.
Phần thứ tư của Đề tài:
Trình bày những giải pháp xây dựng đội ngũ trí
thức Việt Nam và những giải pháp phát huy tiềm năng của đội ngũ trí thức
Việt Nam giai đoạn 2011-2020:
Việt Nam đang phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành
một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện
đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất, kỹ
thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất thích ứng với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất. Nghị quyết của Đại hội VIII của Đảng
(năm 1996) dự đoán đến năm 2020, GDP tăng từ 8 đến 10 lần so với năm 1990.
Khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ có khả năng nắm bắt và vận dụng được
nhiều thành tựu mới nhất của cách mạng khoa học và công nghệ. Khoa học xã
hội và nhân văn có khả năng làm cơ sở cho việc xây dựng hình thái ý thức xã
hội mới, thể hiện dưới những hình thức chính trị, tư tưởng, ý thức pháp
quyền, đạo đức, khoa học, nghệ thuật. Sự phát triển của khoa học đủ sức cung
cấp luận cứ cho việc hoạch định các chính sách, chiến lược và quy hoạch phát
triển. Như vậy, bức tranh tổng thể của đất nước đến năm 2020 là nhằm vào nền
kinh tế thị trường và công nghiệp hóa. Từ nay đến năm 2020, cách mạng khoa
học và công nghệ, nhất là tin học 1, tiếp tục phát triển ở trình độ ngày
càng cao, lực lượng sản xuất tăng nhanh, đồng thời, thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã
hội; cuộc cạnh tranh kinh tế, thương mại, khoa học, kỹ thuật, công nghệ diễn
ra gay gắt, đòi hỏi phải đổ vào đấy rất nhiều chất xám của giới trí thức.
1. Những giải pháp xây dựng đội ngũ trí
thức Việt Nam:
- Có phương hướng và phương pháp đúng trong khai thác,
đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực trí thức.
- Có sự quan tâm hơn nữa đối với các thế hệ trí thức,
đặc biệt đối với trí thức trẻ.
- Đối với trí thức là doanh nhân, tạo mọi điều kiện để
họ có thể phát huy trí tuệ, tiềm năng trong quản lý kinh doanh.
- Phát huy tinh thần dân chủ đối với trí thức, thể
hiện là để cho trí thức thực sự nói lên tiếng nói của chính mình, thực sự
được bày tỏ chính kiến, thực sự được tự do thảo luận về các vấn đề xã hội
nhằm góp phần xây dựng xã hội phát triển. Tạo điều kiện thuận lợi để trí
thức tiếp cận thông tin, nắm vững tình hình của đất nước, tham gia vào đời
sống chính trị - xã hội của đất nước.
- Xây dựng cơ chế đánh giá trí thức để sử dụng cho
đúng, cho hết. Không để cho bất cứ một trí thức nào phải ngậm ngùi, than thở
về số phận của mình.
- Nghiên cứu, khuyến khích trí thức thực hiện việc tư
vấn, phản biện trong hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước trên các
lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,…, góp
phần bảo đảm cho những chính sách đó nhanh chóng đi vào cuộc sống và có hiệu
quả thiết thực.
- Có sự phối hợp giữa trường đại học với cơ quan
nghiên cứu khoa học, cơ sở sản xuất và doanh nghiệp nhằm chuyển giao nhanh
kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ vào sản xuất kinh doanh.
- Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo đảm tính pháp lý
thúc đẩy tiến trình hình thành và phát triển kinh tế tri thức, một đòi hỏi
mới của tiến trình đổi mới đất nước, đồng thời, tạo cơ sở pháp lý để thực
hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc chủ động hội nhập quốc tế,
trước hết là hội nhập kinh tế quốc tế. Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ
chức, cá nhân đối với các tài sản trí tuệ do mình làm ra.
- Bản thân người trí thức phải tự rèn luyện, tự phấn
đấu vươn lên, trở thành những nhà trí thức, nhà khoa học tài năng, có thể
sánh vai cùng nghiên cứu khoa học với các nhà trí thức, nhà khoa học thế
giới.
- Mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học, kỹ
thuật và công nghệ, giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và nhân
tài theo hướng tích cực, chủ động trong việc tiếp cận trình độ quốc tế.
2. Những giải pháp phát huy tiềm năng của
đội ngũ trí thức Việt Nam:
Đội ngũ trí thức Việt Nam muốn phát triển tốt phải dựa
vào 3 yếu tố: 1) Người trí thức tự phấn đấu, tự nâng cao trình độ để không
ngừng vươn lên. 2) Xây dựng hệ thống chính sách đối với trí thức như chính
sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng trí thức, trọng dụng nhân tài. 3) Xây dựng
hệ thống tổ chức đối với trí thức như tổ chức các trường đào tạo trí thức,
tổ chức các tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức bộ máy và phương tiện làm
việc cho trí thức. Yếu tố 1 là yếu tố chủ quan, yếu tố 2 và 3 là yếu tố
khách quan. Hai yếu tố khách quan có ý nghĩa quyết định phát triển đội ngũ
trí thức trong tương lai.
Xây dựng hệ thống chính sách đối với trí thức là cực
kỳ quan trọng. Sự phát triển hay không phát triển của đội ngũ trí thức phụ
thuộc rất nhiều vào chính sách, cơ chế. Chính sách, cơ chế tốt, trí thức
phát triển tốt, chính sách, cơ chế không tốt, trí thức bị kìm hãm, không
phát triển được. Kinh nghiệm này rút ra từ nhiều nước, chứ không riêng gì
Việt Nam. Đề tài sẽ nghiên cứu cơ sở lý luận và nội dung của từng chính sách
về xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam.
Hệ thống chính sách đối với trí thức bao gồm:
- Chính sách khai thác, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng
trí thức sao cho có hiệu quả nhất.
- Chính sách nhằm phát huy các thế hệ trí thức, nhất
là thế hệ trí thức trẻ, để các thế hệ trí thức có đầy đủ điều kiện thuận lợi
phát huy cao độ trí tuệ của mình.
- Chính sách nhằm phát huy các tổ chức khoa học và cá
nhân nhà khoa học (kể cả các tổ chức khoa học trong biên chế và tổ chức khoa
học ngoài biên chế (NGO) và cá nhân nhà khoa học đang công tác ở các tổ
chức, đơn vị, cơ quan công quyền và cá nhân nhà khoa học đã nghỉ hưu).
- Chính sách giao quyền nghiên cứu khoa học cho cá
nhân nhà khoa học theo hình thức "khoán trọn gói", tự chịu trách nhiệm (kể
cả trách nhiệm về kinh phí) của chủ nhiệm đề tài, đề án, dự án; khắc phục
tình trạng bình quân, bao cấp trong nghiên cứu khoa học.
- Chính sách trọng dụng thực sự nhân tài.
- Chính sách sử dụng nhân tố con người trí thức trong
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Chính sách tạo điều kiện và giao việc làm cho trí
thức.
- Chính sách cải thiện đời sống vật chất và tinh thần,
tạo môi trường và phương tiện làm việc cho trí thức.
- Chính sách khen thưởng những công trình nghiên cứu
khoa học có giá trị lý luận và thực tiễn.
- Chính sách bảo đảm quyền bình đẳng, dân chủ, tự do
tư tưởng, phát huy tính sáng tạo của trí thức.
- Chính sách về quyền được tiếp cận những thông tin
quan trọng, chính thống, phục vụ cho việc nghiên cứu.
- Chính sách sử dụng trí thức đã về hưu, nhưng còn sức
khỏe và trí tuệ cống hiến.
- Chính sách khuyến khích những nhà khoa học làm việc
trong các viện, trung tâm nghiên cứu khoa học NGO.
- Chính sách sử dụng trí thức là người Việt Nam ở nước
ngoài và trí thức là người nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam.
Toàn bộ các chính sách phải thể hiện tầm chiến lược
của Đảng và Nhà nước đối với trí thức và nó phải được xây dựng trên nền tảng
lý luận - thực tiễn phát triển của đất nước và xu thế phát triển của thế
giới ngày nay; trên sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của con người Việt Nam;
trên nguồn lực và nguồn nhân lực của đất nước.
3. Những đóng góp mới của Đề tài:
- Đề tài sẽ xây dựng bức tranh tổng thể về đội ngũ trí
thức Việt Nam; làm rõ những vấn đề lý luận về đội ngũ trí thức Việt Nam; đặt
ra những vấn đề về phương pháp luận nghiên cứu về đội ngũ trí thức Việt Nam
trong thời kỳ mới.
- Dựa trên khảo sát thực tế và điều tra xã hội học,
làm rõ thực trạng đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay, làm một trong những cơ
sở xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020.
- Dựa trên nghiên cứu, khảo sát thực tế, hội thảo khoa
học, làm rõ những đặc điểm của đội ngũ trí thức Việt Nam trong một số ngành
và một số lĩnh vực: giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ; nghiên cứu
lý luận chính trị; giảng dạy; xây dựng luật pháp và chính sách; tư tưởng;
văn hóa; xã hội; báo chí, truyền thông; kinh tế và kinh tế tri thức; quốc
phòng, an ninh; y tế; ngoại giao; trí thức Việt Nam ở nước ngoài và trí thức
nước ngoài đang làm việc ở Việt Nam.
- Làm rõ mối quan hệ giữa tầng lớp trí thức Việt Nam
với giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và nhân dân Việt Nam.
- Làm rõ mối quan hệ giữa trí thức Việt Nam với trí
thức thế giới.
- Dựa trên cơ sở lý luận, đưa ra những dự báo khoa học
để xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020.
- Đề xuất những giải pháp quan trọng nhằm góp phần xây
dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020.
- Đề xuất những kiến nghị mang tính khả thi để xây
dựng đội ngũ trí thức Việt Nam có trí tuệ, trình độ, kiến thức, lương tri,
phẩm chất, góp phần quan trọng vào sự nghiệp của cộng đồng các dân tộc Việt
Nam, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, ấm no, tự do, hạnh phúc.
- Làm rõ thuật ngữ, khái niệm về trí thức, tri thức và
những thuật ngữ, khái niệm có liên quan đến vấn đề tri thức, trí thức.
- Hệ thống hóa các tài liệu quan trọng, cơ bản về tri
thức, trí thức thế giới và Việt Nam.
Phần thứ năm của Đề tài:
Trình bày về những kiến nghị nhằm xây dựng đội ngũ
trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020:
Những kiến nghị này sẽ được bổ sung từng bước trong
quá trình thực hiện Đề tài. Bước đầu sẽ có những kiến nghị như sau:
- Đảng phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa tư duy đối với trí
thức; có sự nhìn nhận, đánh giá đúng về trí thức Việt Nam trong phát triển
kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế; tăng cường sự lãnh đạo đối với trí
thức. Nghị quyết của Đảng về trí thức phải có ý nghĩa lý luận và thực tiễn,
có tính khả thi cao. Nhà nước cần có sự quan tâm sâu sắc hơn nữa cả về vật
chất và tinh thần đối với đội ngũ trí thức Việt Nam trong công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc.
- Tập trung xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam đủ mạnh
trong giai đoạn 2011-2020. Có hai yếu tố hội tụ sự đủ mạnh của đội ngũ trí
thức là phát triển số lượng và chú trọng chất lượng phát triển; tạo ra một
đội ngũ trí thức đông đảo, có trình độ nghiên cứu chuyên sâu, đạt tầm cỡ trí
thức thế giới và điều đặc biệt quan trọng là kết quả nghiên cứu phải mang
lại hiệu quả thiết thực, thành quả nghiên cứu phải trở thành "cơm, áo, gạo
tiền".
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là nơi tập hợp và hội tụ
trí thức Việt Nam ở trong nước và ngoài nước, phải nhìn nhận và đánh giá
đúng trí thức để thông tin với Đảng và Nhà nước biết; đồng thời, lựa chọn và
giới thiệu những trí thức tiêu biểu để Đảng và Nhà nước bồi dưỡng, sử dụng.
- Cần đầu tư mạnh hơn nữa cho giáo dục và đào tạo,
khoa học và công nghệ, tập trung vào các mũi nhọn: triệt để cách mạng tư duy
đối với giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; phát triển tin học tới
mức cao nhất; đưa giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ vào trình độ
tiên tiến của thế giới toàn cầu hóa; kết hợp nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu
ứng dụng, cái nào có thể "đi tắt" thì đi tắt, cái nào có thể "đón đầu" thì
đón đầu, cái nào không thể "đi tắt" và "đón đầu", thì đi từng bước vững
chắc, hết sức linh hoạt, cơ động, có độ nhạy cao trong phát triển.
Mở mặt trận đào tạo ra khắp thế thế giới nhằm tăng
nhanh số lượng nghiên cứu sinh, thực tập sinh, sinh viên Việt Nam du học tại
các nước phát triển, nhất là các nước Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật, Nga, Trung
Quốc, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Hàn Quốc; gạt bỏ mọi định kiến, thành kiến với
nghiên cứu sinh, thực tập sinh, sinh viên học ở các nước tư bản.
III. Những kết quả nghiên cứu bước đầu của Đề
tài
1. Đề tài đã xây dựng được một bản thuyết minh (112
trang). Bản thuyết minh đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của Bộ Khoa học và
Công nghệ và được Hội đồng tư vấn, thẩm định đánh giá tốt.
2. Tuy Đề tài nghiên cứu vấn đề xây dựng đội ngũ trí
thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020, nhưng để phục vụ kịp thời cho việc xây
dựng nghị quyết về trí thức của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị
Trung ương 7, Khóa 10, họp vào tháng 7-2008, Đề tài đã có một bản Báo cáo,
kiến nghị (30 trang), gửi Ban Bí thư và một số đồng chí ủy viên Trung ương,
về một số vấn đề xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.
Báo cáo đã hệ thống quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
và Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề trí thức; nêu khái niệm về trí thức,
nhân tài, hiền tài, thiên tài; kinh nghiệm một số nước trong việc khai thác,
đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng trí thức; nghiên cứu về thực trạng đội ngũ trí
thức Việt Nam hiện nay với những đặc điểm, mặt mạnh, mặt hạn chế của trí
thức Việt Nam, những nguyên nhân dẫn đến mặt hạn chế của trí thức Việt Nam;
phản ánh trung thực những băn khoăn, tâm tư của trí thức Việt Nam hiện nay;
góp ý về phương hướng và giải pháp khả thi xây dựng đội ngũ trí thức Việt
Nam phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập
kinh tế quốc tế. Báo cáo được đánh giá tốt.
3. Cũng để phục vụ kịp thời cho việc xây dựng nghị
quyết Trung ương về vấn đề trí thức, Đề tài đã giúp Thường trực Hội đồng Lý
luận Trung ương xây dựng Báo cáo (19 trang) về kết quả Kỳ họp thứ 5 của Hội
đồng thảo luận về xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.
4. Một số đồng chí tham gia nghiên cứu Đề tài đã có
những bản báo cáo, tham luận khoa học riêng tại Hội thảo khoa học về trí
thức do Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức tại Hải Phòng, ngày 16 và
17-4-2008.
5. Đề tài đã giúp Trung ương hệ thống lại toàn bộ
những nghị quyết của 9 Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng (trừ Đại hội I
không bàn gì về trí thức), từ Đại hội II đến Đại hội X và một số hội nghị
Trung ương bàn về những trí thức Việt Nam, phục vụ Hội nghị Trung ương 7,
Khóa X.
6. Đề tài đã phối hợp với "Thời báo Kinh tế Việt Nam"
tổ chức Hội thảo Khoa học về trí thức hoạt động trên lĩnh vực kinh tế.
IV. Những vấn đề tiếp tục nghiên cứu về đội
ngũ trí thức Việt Nam
Đề tài kính mời các nhà trí thức, nhà khoa học tham
gia nghiên cứu cùng Đề tài về 5 nội dung lớn trên đây và những vấn đề cụ thể
sau:
1. Khái niệm về trí thức:
- Định nghĩa về trí thức và quan niệm
về người trí thức.
- Việc lựa chọn để sử dụng các thuật ngữ "tầng lớp trí thức", "đội ngũ
trí thức", "giới trí thức", "lực lượng trí thức".
2. C.Mác, Ph.ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí
Minh bàn về trí thức:
- C.Mác và Ph.ăngghen bàn về trí thức
và phát triển lý luận về trí thức trên cơ sở quan điểm của C.Mác và
Ph.ăngghen.
- V.I.Lênin bàn về trí thức và phát triển lý luận về trí thức trên cơ
sở quan điểm của V.I.Lênin.
- Hồ Chí Minh bàn về trí thức và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về trí
thức.
- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề trí thức.
- Trí thức Việt Nam và chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
3. Quá trình phát sinh, phát triển của đội
ngũ trí thức Việt Nam:
- Trí thức Việt Nam dưới chế độ phong
kiến.
- Trí thức Việt Nam dưới chế độ thực dân, đế quốc.
- Trí thức Việt Nam dưới chính thể dân chủ cộng hòa và cộng hòa xã hội
chủ nghĩa.
- Trí thức Việt Nam trong công cuộc đổi mới và phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước .
4. Cách tiếp cận và phương pháp luận đánh
giá đội ngũ trí thức Việt Nam:
- Tiếp cận ở góc cạnh nào để đánh giá
đội ngũ trí thức Việt Nam cho đúng.
- Phương pháp luận đánh giá đội ngũ trí thức Việt Nam.
- Đánh giá về đội ngũ trí thức Việt Nam qua 20 năm đổi mới và hiện nay.
5. Vai trò, vị trí, đặc điểm của trí thức
Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế:
- Những căn cứ để khẳng định vai trò,
vị trí, đặc điểm của trí thức Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và hội
nhập kinh tế quốc tế.
- Những vấn đề về vai trò, vị trị, đặc điểm của trí thức Việt Nam trong
nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.
6. Trí thức Việt Nam hoạt động trong các
ngành và các lĩnh vực:
- Trí thức Việt Nam trong lĩnh vực
khoa học và công nghệ.
- Trí thức Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
- Trí thức Việt Nam trong lĩnh vực giảng dạy.
- Trí thức Việt Nam trong lĩnh vực lập pháp.
- Trí thức Việt Nam trong lĩnh vực hành pháp.
- Trí thức Việt Nam trong lĩnh vực tư pháp.
- Trí thức Việt Nam trong lĩnh vực quốc phòng.
- Trí thức Việt Nam trong lĩnh vực an ninh.
- Trí thức Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ.
- Trí thức Việt Nam trong lĩnh vực báo chí.
- Trí thức Việt Nam trong lĩnh vực tin học.
- Trí thức Việt Nam trong lĩnh vực y tế.
- Trí thức Việt Nam trong lĩnh vực kinh doanh nói chung.
- Trí thức Việt Nam tại các doanh nghiệp tư nhân.
- Trí thức Việt Nam tại các doanh nghiệp nhà nước.
- Trí thức Việt Nam làm việc tại nông thôn.
- Trí thức Việt Nam tại các địa phương và cơ sở.
- Trí thức Việt Nam trong các viện, trung tâm nghiên cứu khoa học NGO.
- Đội ngũ kỹ sư của Việt Nam hiện nay.
- Trí thức Việt Nam ở nước ngoài.
- Trí thức Việt Nam làm việc riêng lẻ.
7. Những kinh nghiệm phát hiện và sử dụng
trí thức:
- Những kinh nghiệm phát hiện và sử
dụng trí thức tại một số nước hiện nay.
- Những vấn đề về phát hiện và sử dụng trí thức ở Việt Nam hiện nay.
- Những kinh nghiệm phát hiện và sử dụng trí thức ở Việt Nam hiện nay.
- Những kinh nghiệm khắc phục tình trạng "chảy máu chất xám" ở Việt
Nam.
8. Vấn đề con người trí thức Việt Nam:
- Thực chất của vấn đề con người trí
thức Việt Nam hiện nay.
- Những băn khoăn, tâm tư của con người trí thức Việt Nam hiện nay.
- Vấn đề tài và đức của người trí thức Việt Nam hiện nay.
- Con người trí thức Việt Nam trong tiến trình phát triển kinh tế, xã
hội, văn hóa.
9. Mối quan hệ của trí thức Việt Nam:
- Mối quan hệ của tầng lớp trí thức
Việt Nam với giai cấp công nhân Việt Nam.
- Mối quan hệ của trí thức Việt Nam với giai cấp nông dân Việt Nam.
- Mối quan hệ của trí thức Việt Nam với nhân dân lao động Việt Nam.
- Thực chất của mối quan hệ giữa lao động trí óc và lao động chân tay ở
Việt Nam hiện nay.
- Mối quan hệ của trí thức Việt Nam với trí thức các nước.
10. Dự báo khả năng phát triển của đội ngũ
trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020:
- Những căn cứ khoa học dự báo khả
năng phát triển của đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020.
- Dự báo và phân tích về bối cảnh quốc tế sẽ diễn ra trong thập kỷ thứ
hai, thứ ba của thếkỷ XXI, làm cơ sở để xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam
giai đoạn 2011-2020.
- Dự báo và phân tích về môi trường chính trị và môi trường xã hội của
Việt Nam giai đoạn 2011-2020, làm cơ sở để xây dựng đội ngũ trí thức Việt
Nam giai đoạn 2011-2020.
- Dự báo và phân tích về khả năng phát triển kinh tế và tài chính của
Việt Nam giai đoạn 2011-2020, làm cơ sở để xây dựng đội ngũ trí thức Việt
Nam giai đoạn 2011-2020.
- Dự báo và phân tích về khả năng phát triển của nền hành chính Việt
Nam giai đoạn 2011-2020, làm cơ sở để xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam
giai đoạn 2011-2020.
- Dự báo và phân tích về xu hướng phát triển của xã hội và dân số Việt
Nam giai đoạn 2011-2020, làm cơ sở để xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam
giai đoạn 2011-2020.
- Dự báo và phân tích về khả năng phát triển khoa học và công nghệ,
giáo dục và đào tạo của thế giới và Việt Nam giai đoạn 2011-2020, làm cơ sở
để xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020.
- Dự báo và phân tích về nguồn nhân lực của Việt Nam giai đoạn
2011-2020, làm cơ sở để xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn
2011-2020.
- Dự báo và phân tích về khả năng phát triển về số lượng của đội ngũ
trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020.
- Dự báo và phân tích về khả năng phát triển về chất lượng của đội ngũ
trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020.
- Dự báo và phân tích về khả năng vươn tới của trí thức Việt Nam giai
đoạn 2011-2020.
- Dự báo và phân tích về khả năng phát minh khoa học, kỹ thuật, công
nghệ của đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020.
- Dự báo và phân tích về xu hướng phát triển ngành nghề và lĩnh vực
trong khả năng phát triển của đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020.
- Dự báo và tổng hợp những vấn đề về trí thức Việt Nam giai đoạn
2011-2020.
Dự báo ở đây không phải là phán đoán chủ quan, "đoán
mò", mà phải xuất phát từ tình hình thực tế của hiện tại và những năm trước
mắt, xem xét mối quan hệ giữa lịch sử, hiện tại, tương lai mà tính toán, cân
nhắc trước khi đưa ra những dự báo, bảo đảm tính đúng tương đối của dự báo.
Muốn dự báo tốt, trước hết, phải xác định rõ phương
pháp dự báo. Trong các sách báo quốc tế và trên mạng internets, người ta đã
đưa ra khoảng từ 150 - 200 các phương pháp dự báo xã hội. Nhưng trong thực
tế, người ta mới chỉ áp dụng được khoảng từ 15 đến 20 phương pháp, trong đó,
có một số phương pháp tham khảo ý kiến trực tiếp, bằng thư, cá nhân các
chuyên viên, chuyên gia, phác thảo mô hình hóa dự báo (theo nghĩa rộng bao
gồm các bản liệt kê, bản mẫu, biểu đồ, bản đồ,…).
Dự báo xã hội còn được thực hiện tại các cơ quan khoa
học chuyên ngành, cơ quan thống kê dữ liệu, do những nhóm nghiên cứu đặc
biệt gồm những chuyên gia cự phách, được tập hợp từ các viện nghiên cứu, các
cơ quan, các tổ chức, từ nhiều ngành, nhiều nghề, được trang bị máy tính
điện tử.
Đề tài rất mong các nhà trí thức, các nhà khoa học
tham gia dự báo trên những luận cứ khoa học phán đoán trong việc xây dựng
đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020 để năng cao chất lượng nghiên
cứu của Đề tài.
V. Những tài liệu, sách báo về trí thức
Mạng điện tử "Google" công bố hiện nay trên thế giới
có 141 triệu tài liệu, văn bản viết về trí thức. Những nước có nhiều người
nghiên cứu về trí thức là Mỹ, Nga, Đức, Pháp, Anh, Itali, Thụy Điển, Nhật
Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc. Vì vậy, Đề tài rất mong các nhà trí thức, các nhà
khoa học hãy cung cấp cho Đề tài những tài liệu quý về con người trí thức và
những vấn đề về trí thức để giúp chúng tôi tìm hiểu các vấn đề trách nhiệm
của trí thức đối với việc cải tạo thế giới (qua các công trình nghiên cứu
của người nước ngoài); trách nhiệm của trí thức đối với việc phát triển khoa
học và công nghệ (qua các công trình nghiên cứu của người nước ngoài); trách
nhiệm của trí thức đối với việc phát triển văn hóa và xã hội, xây dựng cơ sở
hạ tầng và bảo vệ môi trường sinh thái (qua các công trình nghiên cứu của
người nước ngoài); vai trò, trách nhiệm và sự đóng góp của trí thức đối với
nhà nước và xã hội (qua các công trình nghiên cứu của người nước ngoài); bàn
về quyền lực của trí thức (qua các công trình nghiên cứu của người nước
ngoài).
Rất mong các nhà trí thức, các nhà khoa học cung cấp
cho chúng tôi những cuốn sách quý của thế giới viết về con người trí thức và
những vấn đề về trí thức, như:
- "Intellectuals and the state"
, Pr, Doc Hans Hermann
Hoppe.
- "Intellectuals and socialism",
F.A. Hayek.
- "The Intellectuals" ,
Antonio Gramsci.
- "The Future of Intelligentsia under capitalism",
Bengh
Furaka.
- "Le rôle des intellectuels dans le monde moderne".
- V.v..
Xin cảm ơn!
Đề tài KX.04.16/06-10
Chủ nhiệm
PGS, TS Đức Vượng
http://nhantainhanluc.com/ocw/?iid=383
http://vietsciences.free.fr
và http://vietsciences.org
|