|
Vào năm 1631, ông Etienne nhường chức
vụ của mình cho người khác rồi
dọn nhà lên thành phố Paris để chăm sóc
sự học vấn của con. Ông tự đảm
trách việc giáo huấn và vì vậy, Pascal không
có thầy giáo nào khác ngoài người cha thân yêu
tài ba. Cậu được dạy cách quan sát,
suy tưởng và thường học được
những kiến thức qua các cuộc đàm
luận với cha. Khởi đầu, ông Etienne
quyết định dạy con tiếng La Tinh và Hy
Lạp cho đến năm 12 tuổi, tuy nhiên
trong các thời giờ nhàn rỗi, ông Etienne cũng
kể cho con trai nghe các câu chuyện về Khoa
Học nhưng những điều này không bao
giờ làm cho Pascal thỏa mãn, cậu luôn luôn
khao khát những lý lẽ cuối cùng của
sự vật.
Vì muốn con chuyên tâm về tiếng La Tinh và Hy
Lạp là hai ngôn ngữ rất khó học, nên ông
Etienne đã cất dấu tất cả những
sách về Khoa Học và Toán Học. Nhưng
rồi một hôm, khi bước vào phòng, ông
thấy con trai đang loay hoay dùng phấn chứng
minh trên nền nhà định luật thứ
nhất trong 32 định luật của Euclide.
Sau khi nghe con thuật lại cách chứng minh, ông
Etienne đã phải bỏ nhà, chạy sang nhà ông
hàng xóm Le Pailleur để "khóc lên vì sung sướng".
Xưa nay, ông Etienne chưa từng dạy cho con
học Toán bao giờ, vả lại định
luật của Euclide đó là một bài toán
rất khó đối với người lớn,
không phải dành cho trẻ em 12 tuổi. Pascal
đã chứng minh được rằng tổng
số các góc trong một tam giác bằng hai góc vuông,
đúng như Euclide đã từng phát biểu. Cũng
vì chưa từng học Hình Học, Pascal đã
gọi đường tròn là "cái tròn" (un
rond), đường thẳng là "cái thước
kẻ" (une barre). Từ đây, Pascal mới
được cha cho phép đọc các cuốn khái
luận của Euclide. Do trí thông minh sẵn có,
Pascal đọc tới đâu, hiểu tới
đó mà không cần một ai giảng giải.
Cậu còn giải được nhiều bài toán
khó. Sự tự tìm hiểu do ý thích đã
khiến Pascal chẳng bao lâu trở thành một
nhà toán học có hạng.
Thời bấy giờ, ông Etienne thường
gặp gỡ nhiều nhân vật danh tiếng
về Khoa Học nên Pascal cũng được
tham dự vào các buổi hội thảo, cậu
được làm quen với Cha Mersenne là một
nhà bác học thời đó, cũng như
với những nhà khoa học danh tiếng khác,
chẳng hạn như Desargues, Fermat, Roberval.
Tại các buổi họp này, Pascal đã góp ý
kiến về các tư tưởng, các lý
luận, các lời phê phán những tác phẩm
của các nhà bác học đương thời.
Cậu cũng trình bày những điều do mình
khám phá.
Theo phương pháp Hình Học của Desargues,
Pascal đã hoàn thành cuốn "Khảo Sát
về Thiết Diện Côníc" (Traité des sections
coniques, 1640) khi chưa tới 16 tuổi. Tác
phẩm này bao gồm các công trình của
Apollonius, nhưng đã được Pascal tự
tìm ra và lại chứng minh bằng một phương
pháp luận lý vừa đơn giản hơn,
vừa tổng quát hơn. Tác phẩm của
Pascal đã khiến rất nhiều nhà toán
học tài ba đương thời phải khâm
phục, kể cả Cha Mersenne và Descartes, và ai cũng
đồng ý rằng cuốn sách đó xứng
đáng là công trình của một bậc thầy
chứ không phải là của một thiếu niên
chưa đủ 16 tuổi. Nhiều người
đã thúc dục Pascal đưa in tác phẩm nhưng
do lòng khiêm tốn, cậu đã từ chối vì
vậy ngày ngay người ta chỉ còn lưu
giữ được hai cuốn sách đầu
tay của nhà thiên tài toán học Pascal.
Năm 1638, khi chính phủ Pháp ra lệnh giảm
bớt lợi tức của Tòa Đô Chính Paris,
một nhóm người đã đứng lên
phản đối trong đó có người cha
của Pascal. Vì vậy ông Etienne bị Thủ Tướng
Richelieu cho người theo dõi và phải trốn
về miền Auvergne. Lúc bấy giờ, Pascal 15
tuổi và cô em gái Jacqueline 13. Giống như anh
trai, Jacqueline cũng nổi tiếng là một
thần đồng về thơ văn. Khi lên 11
tuổi, Jacqueline đã sáng tác được
một kịch thơ 5 hồi và tác phẩm thơ
này đã được giới văn nghệ
Paris ưa chuộng. Rất nhiều người và
ngay cả Thi Hào Corneille đều ưa thích
đọc thơ của Jacqueline.
Nhờ tài năng về Thơ Phú, Jacqueline
được phép đóng kịch trước
Hồng Y Giáo Chủ Richelieu. Vị Thủ Tướng
này đã không tiếc lời khen ngợi cô bé và
hỏi thăm về gia cảnh. Nhân lúc này,
Jacqueline liền ngâm một bài thơ xin ân xá cho
cha và Thủ Tướng đã nhận lời. Ông
Etienne nhờ vậy được phép trở
lại Paris và lại được cử
giữ chức vụ Giám Đốc Thuế
Vụ miền Rouen. Nhưng trách nhiệm này làm
ông Etienne mệt mỏi vì sổ sách kế toán
quá nhiều. Để giúp đỡ cha, Pascal
đã sáng chế ra một chiếc máy tính mà
nguyên tắc của nó còn được áp
dụng cho các loại máy tính tối tân ngày nay.
Phát minh này đã làm dang tiếng của Pascal vang
lừng.
Vào các năm trước, gia đình Pascal tuy ngoan
đạo nhưng tôn giáo chưa được
coi là quan trọng cho tới năm 1646, dòng tu
khổ hạnh (Jansenism) của Cơ Đốc Giáo
đã ảnh hưởng tới vùng Pascal cư
ngụ. Đây là nhóm tôn giáo chủ trương
do ông Cornelis Jansen, một giáo sư thần
học gốc Hòa Lan, sống tại Louvain. Các
niềm tin của giáo phái này khác hẳn với
các lời rao giảng của các giáo sĩ Dòng Tên
(the Jesuites). Ông Etienne Pascal, do không ưa thích tôn
giáo, nên đã mang gia đình dọn lên thành
phố Paris. Tới khi ông Etienne qua đời vào
năm 1651, cô em gái Jacqueline của Pascal liền vào
nhà tu tại Port Royal. Do ảnh hưởng này,
Pascal đã để tâm tới tôn giáo cũng như
tới các vấn đề thần học.
Cũng vào năm biết tới dòng tu Khổ
Hạnh, Pascal đã thực hiện lại các thí
nghiệm của Torricelli và phổ biến các
điều khám phá của mình trong tác phẩm
"Các thí nghiệm mới liên quan tới
khoảng chân không" (Nouvelles expériences touchant le
vide, 1647). Pascal đã dựa vào thí nghiệm
rồi dùng lý luận, đánh đổ các quan
niệm cổ xưa của Aristotle về chân không
và ông cũng đưa ra những khám phá mới
về áp suất không khí. Pascal đã tìm thấy
kết luận rằng càng lên cao, áp suất
của không khí càng giảm đi. Để
kiểm chứng điều này, Pascal đã
nhờ người anh rể là Florin Perier lên
ngọn núi Puy-de-Dome thực hiện nhiều thí
nghiệm cần thiết. Các kết quả
của Perier đã xác nhận lời tiên đoán
của Pascal. Do khám phá này của Pascal, các nhà
khoa học đã chế tạo được các
phong vũ biểu và các cao độ kế.
Trong khi nghiên cứu các thí nghiệm của
Torricelli, Pascal còn tìm cách tổng quát hóa những
ý niệm về chất lỏng. Ông đã
thiết lập nhiều định luật
về áp suất của chất lỏng để
rồi phổ biến qua tác phẩm :"Khảo
sát sự cân bằng chất lỏng" (Traité
de l 'équilibre des liqueurs). Cuốn sách này được
hoàn thành vào năm 1651 nhưng mãi tới năm
1663 mới được xuất bản và căn
cứ vào đó, nhiều nhà khoa học đã coi
Pascal là một trong những người sáng
lập ra môn Thủy Động Học
(Hydrodynamics).
Sau khi người cha thân yêu qua đời, Pascal
không chuyên tâm nhiều vào việc khảo cứu
khoa học. Ông thường giao du với nhiều
người, nhất là Hầu Tước trẻ
tuổi De Roannez và Hiệp Sĩ De Mere. Chính trong
thời kỳ này, ông đã chuyên đọc
về Epictète và Montaigne. Do sự đi lại
với De Mere, Pascal đã lưu tâm tới lý
thuyết toán học của cách đánh bài. Ông
bắt đầu nghiên cứu phép tính Sác
Xuất (Probability) rồi vào năm 1654, đã
phổ biến các kết quả qua các bức thư
viết cho Fermat và qua cuốn "Khảo Sát
về Tam Giác Số Học" (Traité du triangle
arithmétique).
Cũng vào năm 1654, Pascal tới Port Royal thăm
cô em gái Jacqueline đang sống trong tu viện.
Cuộc đi thăm này khiến cho Pascal cảm
thấy "ghê tởm cực độ các
sự giả dối của đời người".
Sự bất toại nguyện càng tăng thêm cho
tới khi "đêm lửa" xẩy đến,
làm thay đổi hẳn cuộc sống cũ
của Pascal. Chính vào đêm 23 tháng 11 năm 1654
đó, trong khi đang khảo cứu Toán Học,
Pascal cảm thấy như được đối
thoại cùng Thượng Đế trong hai
tiếng đồng hồ. Pascal thấy mình đã
nhận lãnh một chức vụ thiêng liêng,
rồi vì quá xúc động, ông nguyện
hiến cả đời mình cho Thượng
Đế và quyết tâm làm tỏ đức tin
nơi Đấng Chí Tôn.
Vào năm 1655, Antoine Arnauld, nhà thần học chính
thức của Port Royal bị các nhà thần
học Sorbone kết án, nhất là về lối
tu khổ hạnh (Jansenism) đối với Chúa
Cứu Thế. Có lẽ do chính Arnauld khuyến
dụ, Pascal đã viết ra các bức thư
Provinciales. Lối hành văn cũng như cách
tranh luận của Pascal qua tác phẩm này đã
quyến rũ được dân chúng Paris,
nhất là trong khoảng thời gian từ tháng Giêng
năm 1656 tới tháng 4 năm 1657. Khi sống
tại Port Royal, Pascal được mời
viết cho nhà trường các bài giảng về
Hình Học, có lẽ vì lý do này, Pascal đã
viết nên cuốn "Phương Pháp chứng
minh Hình Học" (On Geometrial Demonstrations).
Thời còn thơ ấu, thể chất của
Pascal rất mỏng manh, nên khi lớn lên, tình
trạng sức khỏe của ông cũng không
được khá. Vào năm 1658, Pascal lại
bị chứng đau răng hành hạ và vì
muốn tìm quên nỗi đau nhức, Pascal quay ra
làm Toán. Ông nghiên cứu hình học Cycloide, là
thứ hình học đang được Roberval và
các nhà toán học đương thời khảo
sát. Pascal đã tìm ra được nhiều tính
chất quan trọng nhưng vì muốn chứng
tỏ các điều khám phá của mình có
thể giải đáp được nhiều bài
toán hắc búa, Pascal đề nghị một
cuộc thách đố vói các nhà toán học.
Nhiều người đã nhận lời trong
đó có Wallis và Laouère, nhưng rồi chỉ có
Pascal cho ra các kết quả hoàn toàn.
Càng về cuối đời, Pascal càng sống
khổ hạnh. Sau khi đứa cháu của ông
được cứu khỏi tại Port Royal và
được mọi người coi là một
sự huyền diệu, Pascal chuyên tâm đọc
sách và kiếm tài liệu để viết nên
cuốn sách "Biện hộ cho Thiên Chúa Giáo"
(Apology for the Christian Religion) mà sau này, tác phẩm
đó được phổ biến sau khi ông qua
đời dưới tên là "Tư Tưởng"
(Pensées).
Tháng 6 năm 1662, Pascal đem nốt căn nhà
ở tặng cho một gia đình nghèo đang
mắc bệnh đậu mùa. Ông dọn tới
ở nhờ người chị gái Gilberte.
Tại nơi này, Pascal bị ốm nặng và cơn
bệnh còn hành hạ ông trong hai tháng. Pascal qua
đời vào ngày 19 tháng 8 năm đó, hưởng
thọ 39 tuổi.
Năm 1962, cả nước Pháp đã làm lễ
kỷ niệm 300 năm ngày húy kỵ của
Blaise Pascal, nhà bác học kiêm triết gia kiêm văn
sĩ. Để ghi nhớ bậc Vĩ Nhân Khoa
Học này, người ta đã phát hành tem thư,
tổ chức các buổi thuyết trình về
Triết Học, Toán Học và Văn Chương.
Nhiều phòng triển lãm đã trưng bày các tác
phẩm của Pascal cùng chiếc máy tính, phát minh
lừng danh của ông. Qua các bài diễn văn, các
Viện Sĩ Louis de Broglie, Francois Mauriac. đã ca
ngợi Blaise Pascal là một thiên tài của Nhân
Loại, đã mang cả cuộc đời
phụng sự cho Khoa Học và Triết Học.
http://vietsciences.free.fr |